Siêu đô thị thế hệ mới: Thông điệp hội thảo và góc nhìn từ các chuyên gia

Sáng ngày 21/3, Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam (VUPDA) tổ chức Hội thảo khoa học “Siêu đô thị thế hệ mới: Động lực tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đô thị Việt Nam trong kỷ nguyên mới” tại Hà Nội.

Các chuyên gia tại tọa đàm 1: TS.KTS. Nguyễn Thanh Nhã; GS.TS. Nguyễn Quốc Thông; TS.KTS. Nguyễn Đỗ Dũng; GS.TS. Đỗ Hậu; TS. KTS. Ngô Trung Hải

Hội thảo nhằm nhận diện, làm rõ khái niệm, mô hình, vai trò, vị thế, cơ hội phát triển và những tác động của “Siêu đô thị thế hệ mới” đối với lĩnh vực quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và kinh tế – xã hội của Việt Nam. Thông qua việc tổng hợp các kinh nghiệm quốc tế, phân tích bối cảnh trong nước và mô hình phù hợp, Hội thảo góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho định hướng phát triển các siêu đô thị thế hệ mới Việt Nam trong dài hạn.

Thông điệp hội thảo

Trong bối cảnh đô thị hóa toàn cầu, các siêu đô thị (megacity) từng được xem là biểu tượng của sự phát triển kinh tế và tập trung dân cư quy mô lớn. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển trong những thập niên gần đây cho thấy mô hình siêu đô thị truyền thống – chủ yếu dựa trên sự gia tăng dân số và mở rộng không gian đô thị – đang bộc lộ nhiều hạn chế như quá tải hạ tầng, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội và suy giảm chất lượng sống.

Hội thảo đã thu hút sự tham gia của hơn 150 chuyên gia, gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý đô thị trong nước và quốc tế.

Trước những thách thức đó, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế… đã chuyển hướng nghiên cứu và phát triển mô hình siêu đô thị thế hệ mới, nhấn mạnh đến cấu trúc đa trung tâm, liên kết mạng lưới vùng, quản trị thông minh và phát triển bền vững.

 Chủ tịch VUPDA Trần Ngọc Chính nêu nhiều vấn đề cần làm rõ: “Việt Nam có nên phát triển các siêu đô thị thế hệ mới hay không, và nếu có thì cần được định nghĩa như thế nào, quy mô, cấu trúc ra sao, cũng như cần những điều kiện thể chế, hạ tầng và công nghệ nào để vận hành hiệu quả trong bối cảnh mới”.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Trần Ngọc Chính – Chủ tịch VUPDA, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng – nhận định: tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng với sự hình thành các vùng đô thị lớn và các hành lang kinh tế – đô thị như vùng Thủ đô Hà Nội, vùng TP. HCM và các trục phát triển ven biển. Những xu hướng này cho thấy sự dịch chuyển từ mô hình đô thị đơn cực sang các cấu trúc đô thị quy mô vùng, đa cực và liên kết chức năng, đặt nền tảng cho khả năng hình thành các siêu đô thị thế hệ mới trong tương lai.

Tuy nhiên, khung lý luận, mô hình phát triển và cơ chế quản trị đối với loại hình đô thị này ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống.

Nguyên Phó Thủ tướng chính phủ Trịnh Đình Dũng (thứ 2 bên phải) và nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân (Thứ 2 bên trái) dự hội thảo.

Trong khi đó, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có nên phát triển các siêu đô thị, mà quan trọng hơn là siêu đô thị thế hệ mới cần được định nghĩa như thế nào, có quy mô và cấu trúc ra sao, và cần những điều kiện thể chế – hạ tầng – công nghệ nào để có thể vận hành hiệu quả trong bối cảnh Việt Nam bước vào Kỷ nguyên mới, hướng tới thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Việc làm rõ các vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển không gian quốc gia, tổ chức hệ thống đô thị và nâng cao năng lực cạnh tranh của các vùng kinh tế trọng điểm trong dài hạn. Vì vậy, Hội thảo này tập trung thảo luận các chủ để chính sau:

  • Lý luận khoa học về siêu đô thị và siêu đô thị thế hệ mới.
  • Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
  • Tiềm năng, lợi thế, cơ hội thúc đẩy phát triển “Siêu đô thị thế hệ mới” tại Việt Nam;
  • Những tác động tích cực do “Siêu đô thị thế hệ mới” mang lại cho Việt Nam.

Chủ tịch VUPDA nhấn mạnh: Phát triển siêu đô thị thế hệ mới tại Việt Nam cần dựa trên cách tiếp cận: không đặt nặng vào quy mô dân số; xây dựng cấu trúc đô thị đa trung tâm; kết nối mạng; thúc đẩy đô thị thông minh và chuyển đổi số; phát triển kinh tế đổi mới sáng tạo; tăng cường hạ tầng kết nối vùng và hạ tầng số; đổi mới quản trị đô thị và quản trị vùng.

Theo cách tiếp cận này, Việt Nam có thể hình thành các siêu đô thị thế hệ mới hiện đại, năng động và có khả năng cạnh tranh quốc tế, đồng thời tránh được những hệ quả của việc phát triển các siêu đô thị quá lớn về dân số.

TS. KTS. Trương Văn Quảng, Phó Tổng thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam

TS. KTS. Emmanuel Cerice – Giám đốc cơ quan hỗ trợ HTQT vùng Paris tại Việt Nam

Phát triển siêu đô thị thế hệ mới không chỉ là xu thế đô thị hóa mà còn là lựa chọn chiến lược góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, tạo ra các cực tăng trưởng, trung tâm đổi mới sáng tạo và không gian phát triển bền vững cho quốc gia trong tầm nhìn dài hạn. Ngoài việc thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế – xã hội, siêu đô thị thế hệ mới  còn mang lại những giá trị nổi bật giúp siêu đô thị thế hệ mới trở thành không gian sống, làm việc và sáng tạo đặc trưng của xã hội đô thị trong thế kỷ XXI.

Góc nhìn từ các chuyên gia 

Tại Hội thảo, bà Trần Thu Hằng, Vụ trưởng Vụ Quy hoạch Kiến trúc (Bộ Xây dựng), cho biết: thực tiễn thế giới cho thấy mô hình siêu đô thị truyền thống dựa trên tăng quy mô và không gian vật lý đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là vấn đề quá tải hạ tầng, suy giảm chất lượng môi trường và gia tăng chi phí xã hội. Bà Hằng nhấn mạnh: “Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững, việc hình thành các siêu đô thị thế hệ mới không chỉ là một xu hướng mà là một sự lựa chọn chiến lược nhằm tạo lập các cực tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế của đô thị Việt Nam cũng như Việt Nam trong mạng lưới kinh tế khu vực và toàn cầu“.

Tại phần Tọa đàm, các chuyên gia đưa ra nhiều ý kiến từ thực tiễn đô thị Việt Nam đang phát triển, với góc nhìn đa chiều. Theo các chuyên gia, siêu đô thị thế hệ mới không đơn thuần là sự mở rộng về quy mô, mà là một bước tiến hóa về chất lượng. Trong đó, con người và chất lượng sống trở thành trung tâm, thay thế cho tư duy phát triển dựa trên không gian vật lý thuần túy.

KTS. Trần Ngọc Chính, người đứng đầu VUPDA, khẳng định: Điểm khác biệt cốt lõi giữa siêu đô thị truyền thống và siêu đô thị thế hệ mới nằm ở phương thức phát triển. Nếu mô hình cũ dựa vào mở rộng không gian và gia tăng dân số, thì mô hình mới hướng tới “thông minh hơn – bền vững hơn – quản trị tốt hơn”, dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Ông nhấn mạnh: “Phát triển siêu đô thị thế hệ mới không đặt nặng quy mô dân số, mà chú trọng cấu trúc đa trung tâm, tăng cường kết nối vùng, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế sáng tạo và đổi mới quản trị đô thị”,

ThS. Phạm Thị Miền – Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam.

TS. Lưu Đức Minh – Phó giám đốc Học viện Chiến lược bồi dưỡng cán bộ xây dựng

GS.TS.KTS Đỗ Hậu – Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam – cho rằng: Bước sang thế kỷ XXI, trước tác động của toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu, các đô thị đang chuyển dịch sang mô hình mới: Thông minh hơn, bền vững hơn và lấy con người làm trung tâm. Ở đó, công nghệ số, hạ tầng thông minh và quản trị dữ liệu trở thành nền tảng cốt lõi.

TS.KTS Trương Văn Quảng đưa ra khung mô hình phát triển với các quan điểm: Chuyển từ mở rộng quy mô dân số sang nâng cao năng lực đô thị; phát triển mạng lưới đô thị quốc gia; phát triển cấu trúc đa trung tâm; đẩy mạnh chuyển đổi số; phát triển kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo; phát triển hạ tầng kết nối; đổi mới quản trị đô thị. Mô hình này dựa trên 5 trụ cột: Chức năng kinh tế toàn cầu; kết nối hạ tầng và mạng lưới; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; phát triển bền vững; và quản trị đô thị thông minh.

ThS. Phạm Thị Miền, tham luận về siêu đô thị thế hệ mới nhìn từ góc độ thị trường bất động sản. Theo bà Miền: Khác với cách tiếp cận truyền thống, mô hình này dựa trên bốn trụ cột: đa trung tâm, liên kết vùng, hạ tầng đi trước và gắn bất động sản với nền kinh tế thực. Cách phát triển này giúp phân bổ lại dân cư và dòng tiền, hình thành các “vùng giá” mới và giảm áp lực tăng giá tại khu vực trung tâm. Đồng thời, khi bất động sản gắn với việc làm, hạ tầng và dịch vụ, giá trị tài sản sẽ phản ánh đúng khả năng khai thác thực tế, thay vì phụ thuộc vào kỳ vọng đầu cơ.

Ở tầm rộng hơn, bà Miền cho rằng siêu đô thị không chỉ là một mô hình đô thị, mà còn là công cụ tái cấu trúc nền kinh tế, giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, thu hẹp chênh lệch vùng miền và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mô hình này, cần hội tụ nhiều điều kiện từ quy hoạch liên vùng, thể chế minh bạch, hạ tầng đi trước cho đến sự tham gia của các nhà phát triển có tiềm lực đủ mạnh.

TS. KTS. Emmanuel Cerice, khi đề cập đến khái niệm đô thị lớn hay siêu đô thị, ông cho rằng: nó không chỉ đơn thuần là các khái niệm liên quan đến vấn đề phát triển không gian, quy mô địa bàn hay địa giới hành chính, mà nó còn liên quan rất nhiều đến những  vấn đề về các chức năng đô thị. Chẳng hạn như là các chức năng về chính trị, về kinh tế, về xã hội, về văn hóa,…

thì con thuộc phòng rồi nữa nói rõ Từ mô hình phát triển của các vùng đô thị và các đô thị lớn ở các khu vực trên thế giới, ông nhận định: các vùng đô thị lớn hoặc là các siêu đô thị này, dù là theo khái niệm truyền thống hay thế hệ mới, thì đều cần có sự kết nối chặt chẽ với nhau trong các vấn đề cạnh tranh về quy mô của GDP ở cấp độ đô thị. Và nó cũng có sự liên kết với nhau thành một mạng lưới. Đặc biệt, ở đây chúng ta thấy sự liên kết rất lớn giữa các siêu đô thị của khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và một số ở Châu Á.

TS. Nguyễn Đỗ Dũng – Tổng Giám đốc công ty Tư vấn Quốc tế enCity cho rằng để chia sẻ về các bài học quốc tế có đồng cảnh với chúng ta rất là dễ. Nhưng trước khi chia sẻ bài học của họ, chúng ta hãy hỏi ngược lại là siêu đô thị của chúng ta đang có vấn đề gì, nó nằm ở đâu? Theo quan điểm của TS. Đố Dũng, thì lập luận khoa học về siêu đô thị nên bắt đầu từ chức năng kinh tế, chứ không phải từ quy mô dân số. Và lý do tồn tại cốt lõi của các đô thị lớn là khả năng tạo lập một thị trường lao động lớn, thống nhất và có thể tiếp cận được trong khoảng thời gian hợp lý. Nói cách khác là tính hiệu quả của siêu đô thị phụ thuộc vào việc người lao động ở nhiều vị trí khác nhau vẫn có thể tiếp cận được một phổ đủ rộng các cơ hội việc làm, trong khoảng 45 – 50 phút di chuyển.

Đáng chú ý, ý kiến các chuyên gia khuyến nghị cho Hà Nội cũng như các đô thị lớn của Việt Nam đều cho thấy sự tương đồng về định hướng: cần vượt qua tư duy quy hoạch cứng nhắc, coi trọng tính liên tục của không gian đô thị, đồng thời tích hợp các yếu tố môi trường, năng lượng và khả năng chống chịu rủi ro ngay từ giai đoạn quy hoạch.

Có thể thấy, sự gặp gỡ trong quan điểm giữa nhà quản lý trong nước và chuyên gia quốc tế đã làm rõ một vấn đề cốt lõi: phát triển siêu đô thị tại Việt Nam không thể đi theo lối mòn “mở rộng – đầu tư – tăng trưởng”, mà cần một cách tiếp cận mới dựa trên liên kết vùng, quản trị hiện đại và quy hoạch tích hợp. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt của các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay./.

Mộc Cỏ Trần

 

 

Bài viết cũ hơn